TẠI SAO HOA KỲ VÀ VIỆT NAM PHẢI KHẨN TRƯƠNG THẮT CHẶT QUAN HỆ CHIỀU SÂU?

Ngày đăng: [Sunday, September 13, 2015]
Bài viết của 2 ông: Alexander Benard là Giám đốc tác nghiệp hay còn gọi là Giám đốc điều hành - COO: Chief Operating Officer - của Schulze Global Investments, một công ty cổ phần tư nhân tập trung vào thị trường bên ngoài Hoa Kỳ; và Paul J. Leaf là một luật sư tại một công ty luật quốc tế.


Hình chủ tịch Trương Tấn Sang bắt tay với tổng thống Obama trong chuyến viếng thăm ngày 25 tháng 7 năm 2013 tại nhà Trắng.

"Bắc Kinh đang ngày càng chứng minh cho Hà Nội rằng họ khao khát quyền bá chủ trong khu vực và sẽ chà đạp các chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào theo cách của mình ..."

Quan hệ Mỹ-Việt đã được tăng cường trong vài năm qua, phần lớn là do mối quan tâm chung đối với sự gia tăng gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng một số vấn đề của mối quan hệ đã tiến triển chậm chạp – sự chậm chạp này giúp khẳng định niềm tin của Trung Quốc rằng họ có thể tiếp tục bắt nạt Việt Nam như là một phần của sự đàn áp để kiểm soát khu vực mà không làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ nào. Thật vậy, Trung Quốc gần đây đã cắm một giàn khoan dầu trong vùng biển Việt Nam, và chỉ tuần trước, Bắc Kinh đã nới rộng thời gian hoạt động của giàn khoan này thêm vài tháng. Nhưng hành động khiêu khích mới nhất này, cùng với thông báo của Trung Quốc vào tuần trước rằng họ sẽ thay đổi nhiều hơn các nguồn lực hướng tới khả năng hải quân và không quân của họ, điều này có thể thúc đẩy Hoa Kỳ và Việt Nam phát triển một số yếu tố then chốt của quan hệ đối tác đang phát triển 2 bên.

Lướt qua

Trong tháng 5 năm 2014, chỉ ba ngày sau khi Tổng thống Obama kết thúc chuyến công du châu Á để trấn an các đồng minh ở đó, Bắc Kinh đã gây ra một cuộc khủng hoảng gần quần đảo Hoàng Sa, nằm trong vùng biển Đông đã bị chiếm đóng bỡi Bắc Kinh, như tuyên bố của Hà Nội. Được hỗ trợ bởi "một số lượng lớn các tàu," Trung Quốc đặt một giàn khoan dầu khoảng 80 dặm bên trong khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ: exclusive economic zone), cách xa 200 dặm từ bờ biển của họ. Bắc Kinh lập luận rằng họ kiểm soát những vùng biển này bởi vì họ ở trong EEZ của quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam đã can thiệp vào hành động này của Trung Quốc với khoảng ba mươi tàu của riêng mình. Một sự giằng co và leo thang 75 ngày xảy ra sau đó, Trung Quốc đã phái lực lượng quân sự để bảo vệ giàn khoan và tàu của hai quốc gia đã liên tục đâm và phun nước vào nhau. Trung Quốc đã đánh chìm một tàu Việt Nam và các cuộc bạo động chống Trung Quốc nổ ra ở Việt Nam. Trung Quốc cuối cùng đã rút lui sau khi hoàn tất thử nghiệm của mình, nhưng cũng cảnh báo rằng họ có thể quay trở lại.

Hoa Kỳ kêu gọi hành động của Trung Quốc là "khiêu khích", nhưng không có hành động trừng phạt, không duyệt chương trình cho phép bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, đã từ chối đứng ra làm hòa giải cuộc xung đột, và chỉ gửi lực lượng phi quân sự đến khu vực này. Nhìn thấy một Hoa Kỳ không can thiệp công việc nội bộ của 2 nước, và nhận ra ưu thế hải quân của Trung Quốc, Việt Nam đã phải hạ thấp những tranh chấp với ông chủ đầu tư lớn nhất và là đối tác thương mại lớn nhất của mình, gọi nó là các cuộc bất đồng, xung đột của những "người anh em một nhà" và nối lại quan hệ quân sự với Trung Quốc. Với một cường quốc khu vực mạnh không thể ngăn chặn được và Washington đã tự hạn chế mình, Trung Quốc đã cảnh báo rằng các đối thủ của nó nên chấp nhận sự gia tăng quyền lực ở khu vực không thể lay chuyển của nó.

Để nhấn mạnh thông điệp này, Tháng Sáu năm 2015 vừa qua, chỉ vài tuần trước khi nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam – Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng(ND) - đến thăm Hoa Kỳ, Trung Quốc đã triển khai giàn khoan ở một phần khác của vùng EEZ của Việt Nam (chồng lấn với EEZ tạo ra bởi Đảo Hải Nam của Trung Quốc) nhằm thăm dò mỏ tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Bắc Kinh cảnh cáo các tàu nước ngoài xung quanh giàn khoan 2.000 m (6,562 feet). Việc thăm dò đã được dự kiến sẽ kết thúc vào ngày 20 tháng 8, năm 2015. Nhưng tuần trước, Trung Quốc đã chuyển giàn khoan này đến gần với bờ biển Việt Nam hơn (trong phạm vi 110 dặm bờ biển của Trung Quốc) và đơn phương mở rộng khoan thăm dò thêm trong hai tháng nữa.

Tại sao những hàng động của Trung Quốc có vấn đề

Hành động của Trung Quốc là đặc biệt đáng báo động khi được xem như là một phần của sự xâm lược ngày càng gia tăng từ vấn đề bế tắc trong sự việc giải quyết giàn khoan lần đầu tiên vào năm 2014. Bắc Kinh lại công bố vào mùa hè này đã hoàn thành việc xây dựng đảo nhân tạo chưa từng có trong phần tranh chấp ở Biển Đông và kế hoạch của mình để tiếp tục xây dựng các cơ sở quân sự ở đó. Trong tháng Bảy, Trung Quốc đã tổ chức một cuộc tấn công vào hòn đảo ở Biển Đông với rất nhiều tàu chiến (bao gồm cả vũ khí hạt nhân) và máy bay Trung Quốc bắn đạn thật trên vùng biển này. Tuần trước, trong vùng biển Nhật Bản, Trung Quốc đã hoàn thành cuộc tập trận hải quân lớn nhất với Nga. Bắc Kinh phô trương vũ khí quân sự mới nhất của mình trong tuần này để đánh dấu sự thất bại chiến tranh thế giới II của Tokyo, và thông báo rằng sẽ tinh giảm biên chế bộ binh để tập trung nhiều nguồn lực hơn vào lực lượng hải quân và không quân của mình, chúng đáp ứng tốt hơn cho dự án vươn quyền lực ra bên ngoài. Và lần đầu tiên, Trung Quốc đang hoạt động tàu hải quân ngoài khơi bờ biển Alaska (trong vòng 12 dặm của Trung Quốc), cùng lúc với chuyến đi của Tổng thống Obama tại đây.

Nhận thức được sự bành trướng của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những bước khiêm tốn để tăng cường mối quan hệ của họ. Ví dụ, các quốc gia tăng tần suất các cuộc tập trận chung và thăm viếng ở cấp cao; Hoa Kỳ cung cấp 18 triệu đô la để thúc đẩy bảo vệ bờ biển của Việt Nam, và Washington nới lỏng trên cơ sở cho từng trường hợp cụ thể lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà Nội.

Cả hai nước đều muốn làm nhiều hơn, nhưng không phải Hoa Kỳ lẫn Việt Nam thay đổi về quan điểm cần có yêu cầu cấp bách. Chính quyền Obama không muốn khiêu khích Bắc Kinh, nó được chứng minh bằng phản ứng câm lặng của mình cho sự bế tắc trong vụ giàn khoan HD981 vào năm 2014 và thất bại về việc cáo buộc 12 dặm lãnh hải của Trung Quốc xây dựng hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông. Washington cũng lo ngại việc Hà Nội đang thẳng tay đàn áp người dân trong nước một cách thoải mái. Trong khi đó, chính quyền Hà Nội lại đấu đá nhau giữa 2 bè phái thân Mỹ và thân Trung Quốc. Nhóm thân Trung tin rằng Trung Quốc đang dấn thân nhiều hơn để kiểm soát sân sau của mình hơn so với Hoa Kỳ phải với tay đến nửa vòng trái đất. Vấn đề đặt ra là sự thiện chí và khả năng của Washington có quyết liệt với Bắc Kinh, khi mà Hoa Kỳ đang bị phân thây sức mạnh ở các nơi khác trên thế giới và cắt giảm chi tiêu quân sự của mình.

Nhưng hành động khiêu khích mới nhất của Trung Quốc là một cơ hội để khắc phục những động lực này. Bắc Kinh đang ngày càng chứng minh cho Hà Nội thấy khao khát quyền bá chủ trong khu vực và sẽ chà đạp lên chủ quyền của bất kỳ quốc gia theo cách của họ, qua đó nó hỗ trợ một lập luận mạnh mẽ cho những ai muốn tìm kiếm một mối quan hệ Mỹ-Việt sâu hơn.

Phe thân Hoa Kỳ ở Việt Nam phải ngay lập tức thúc đẩy Mỹ tiếp cận nhiều hơn đến các cơ sở quân sự ở Việt Nam. Việt Nam có thể duy trì sự kiểm soát của họ, nhưng nên ủng hộ sự quay trở lại của quân đội Hoa Kỳ và cho phép họ xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị mới cho những căn cứ quân sự trước đây. Lúc đó, Washington sẽ có thể thể hiện sức mạnh vào vùng biển Đông dễ dàng hơn và Bắc Kinh sẽ nản chí, không quấy rối Hà Nội. Việt Nam cũng nên cấp phép cho Hải quân Mỹ có những cuộc thăm viếng các bến cảng cảng thường xuyên hơn (hiện tại giới hạn trong một năm) và cung cấp quyền sử dụng cảng nước sâu chiến lược quan trọng nhất của mình, vịnh Cam Ranh.

Về mặt kinh tế, Hà Nội cần tiếp tục thực hiện cải cách kêu gọi của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các thỏa thuận tự do thương mại hiện đang được đàm phán giữa mười hai quốc gia vành đai Thái Bình Dương. Bằng cách tham gia TPP, Việt Nam có thể giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, từ đó Việt Nam sẽ đủ khả năng tự do to lớn hơn để theo đuổi lợi ích quốc gia riêng của mình ngay cả khi có sự xung đột với Trung Quốc. Cuối cùng, Việt Nam phải cải thiện nhân quyền của mình để thúc đẩy quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ.

Về phía Hoa Kỳ, Washington phải đền đáp lại. Đầu tiên, ngay cả sau khi hơi nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam do quan ngại về nhân quyền, là Hoa Kỳ đã và đang làm chậm tiến trình vực dậy khả năng quân sự của nước này. Hoa Kỳ cần tiếp tục thúc đẩy Việt Nam cải thiện thành tích nhân quyền của mình, trong khi có sự giám sát thích hợp với hàng hải và công nghệ hải quân khác của Hà Nội, mà không đe dọa đến người dân Việt. Thứ hai, Tổng thống Obama nên làm việc với Tập Cận Bình về vấn đề Biển Đông và ngược đãi của Trung Quốc đối với Việt Nam điểm trong cuộc gặp sắp tới - 24/9/2015(ND) -  tại Washington trong chuyến thăm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, từ đó báo hiệu cho Việt Nam hiểu rằng rằng Hoa Kỳ có những hành động chống lại sự xâm lược của Bắc Kinh đối với Việt Nam một cách nghiêm túc và không ngần ngại đối đầu với Trung Quốc. Thứ ba, Hoa Kỳ cần phải hòa nhập sâu hơn với Việt Nam với những mối quan hệ an ninh khu vực khác, kể cả bằng cách khuyến khích Việt Nam cùng phát triển vũ khí, mời Việt Nam tham gia vào cuộc tập trận quân sự đa phương và tiến hành tuần tra hải quân chung, và mua vũ khí của Mỹ, châu Âu và của Nhật Bản. Việc này sẽ dễ dàng để Việt Nam từ bỏ công nghệ quân sự Nga (Moscow hiện đang là nhà cung cấp vũ khí chính của Hà Nội), nó cũng sẽ tăng cường khả năng tương tác của Việt Nam với Hoa Kỳ và các đồng minh của mình và tăng cường liên lạc quân sự của các nước đó. Thứ tư, Hoa Kỳ phải kết thúc sớm TPP, trong đó sẽ có lợi cho Hoa Kỳ và Việt Nam cho cả hai chiến lược và kinh tế.

Hà Nội có thể trở thành một trong những đối tác tốt nhất của Washington để chống lại sự trỗi dậy của Bắc Kinh. Việt Nam tiếp giáp với Biển Đông, và giáp với Trung Quốc. Việt Nam có dân số đông đứng thứ 14 trên thế giới, lực lượng quân sự đứng thứ 13 đang trong tình trạng túc trực thường xuyên, và như là một phần của GDP, Việt Nam là nước chi tiêu quốc phòng lớn thứ hai khu vực Đông Nam Á. Nền kinh tế của Việt Nam được dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ mười bảy trong mười năm. Và Việt Nam sẽ là một đối tác mạnh quân sự của Hoa Kỳ, có đủ khả năng đối mặt với những kẻ thù có vũ trang lớn hơn và tốt hơn.

Hoa Kỳ và Việt Nam phải nâng tầm mối quan hệ với nhau. Làm như vậy sẽ báo hiệu rằng Washington vẫn cam kết để chống lại một Trung Quốc đang lên ở thời điểm mà các nước trong khu vực đang cầm một hàng rào an ninh, chứ không phải những gì không chắc chắn là liệu Hoa Kỳ có những gì để Việt Nam cần phải đứng lên đối đầu với sự gây hấn của Bắc Kinh. Một quan hệ đối tác Mỹ-Việt Nam mạnh mẽ cũng có thể giúp làm chậm sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách chứng minh sự phản tác dụng hành vi của Trung Quốc, thậm chí chuyển cựu thù thành đồng minh chống lại Trung Quốc.

Asia Clinic, 11h16' Chúa nhựt, 13/9/2015

Đăng nhận xét

0 Nhận xét